CHƯƠNG 1: MIỀN SÔNG NƯỚC VÀ MỐI TÌNH ĐẦU

CHAPTER 1: THE RIVERLAND AND FIRST LOVE

(Hồi ký của Lập – Cần Thơ, 1975–1980)
(Memoir of Lập – Cần Thơ, 1975–1980)
~*~

🎧 Audiobook tiếng Việt

Chỉ đọc tiếng Việt: lời kể đọc chậm, lời thơ ngắt nhịp và chậm hơn, đoạn thoại ấm và tự nhiên hơn. Bản tiếng Anh chỉ là bản dịch phụ để đối chiếu.

Sẵn sàng. Bản đọc dùng giọng có sẵn trong trình duyệt.

1. Năm đó tôi 15 tuổi 1. That year I was 15

Năm đó tôi 15 tuổi. Tháng 4 năm 1975, Sài Gòn đổi chủ. Nhà tôi ở thành phố, thuộc dạng khá giả. Ba tôi làm việc cho chế độ cũ, anh Hai tôi cũng đi lính. Ngày giải phóng, Ba và anh Hai bị bắt đi cải tạo. Má tôi khóc sưng cả mắt, gom vội vài món đồ quý, dắt tôi và đứa em nhỏ về quê nội ở Cần Thơ. Từ một thằng nhỏ ở nhà lầu, đi xe hơi, tôi thành thằng nhỏ chân đất, ở căn nhà lá bên rạch. Đêm đầu tiên, đèn dầu leo lét, muỗi kêu vo ve. Hàng xóm nhìn chúng tôi dò xét. Có người thương, có người nói: – "Con nhà tư sản, ngụy quyền mà cũng có ngày này hả?" Tôi cúi mặt, nuốt nước mắt vào trong. Má tôi nắm tay tôi, giọng run run: – "Ráng chịu nghen con. Mình còn sống là còn phước." Nhưng tôi biết, từ đây, tôi không còn được sống như một đứa con nít nữa. Tôi 15 tuổi, nhưng phải già trước tuổi.

That year I was 15. In April 1975, Saigon changed hands. My family lived in the city, reasonably well-off. My father worked for the old regime; my older brother was a soldier. On Liberation Day, Father and Brother Hai were taken for re-education. Mother cried until her eyes were swollen, hurriedly gathered a few precious things, and led me and my little sibling back to our paternal hometown in Cần Thơ. From a boy who lived in a multi-storey house and rode in cars, I became a barefoot boy in a thatched house by the creek. The first night, the oil lamp flickered, mosquitoes hummed. Neighbours looked us over. Some were kind; others said: – “So even the bourgeois, the puppet-regime kids have their day, huh?” I lowered my face and swallowed my tears. Mother held my hand, her voice trembling: – “Bear with it, child. As long as we’re alive, we still have blessings.” But I knew that from then on I would no longer live as a child. I was 15, yet I had to grow old before my time.

Lập năm 15 tuổi ở Cần Thơ 1975
Lập năm 15 tuổi ở Cần Thơ – hình minh họa tái hiện
Lập at 15 in Cần Thơ – recreated illustration

2. Mất hộ khẩu – Không vào trường được 2. Lost household registration – Unable to enrol in school

Má tôi dắt tôi ra ủy ban xã làm lại giấy tờ, nhưng cán bộ nhìn hồ sơ, lắc đầu: – "Nhà này lý lịch phức tạp. Tạm thời chưa đăng ký hộ khẩu được. Khi nào có hộ khẩu thì mới ghi tên vào trường trung học được." Tôi đứng chết lặng. 15 tuổi, đáng lẽ phải học lớp 10, giờ lại thành thằng không trường, không lớp. Má tôi van nài: – "Dạ, cháu nó còn nhỏ, xin cô bác thương, cho nó đi học..." Cán bộ gạt tay: – "Quy định vậy đó. Có hộ khẩu rồi tính sau." Tôi ra về, lòng nặng như chì. Má tôi ôm tôi, khóc: – "Con ráng chịu. Má lo làm, kiếm tiền nuôi con. Có học đâu cũng được, miễn con sống cho đàng hoàng." Tôi gật đầu, nhưng trong lòng biết: từ nay, tôi phải tự lo cho mình.

Mother took me to the commune committee to re-do the papers, but the official looked at the file and shook his head: – “This family’s background is complicated. Temporarily we cannot register the household. Only when you have household registration can the name be entered into the secondary school.” I stood frozen. At 15 I should have been in grade 10; now I was a boy with no school, no class. Mother pleaded: – “Please, the child is still young, have pity, let him study…” The official waved her off: – “Those are the rules. Once you have household registration we’ll talk.” I went home, my heart as heavy as lead. Mother held me and cried: – “Bear with it, child. Mother will work and earn money to raise you. Whether you study or not is secondary; just live decently.” I nodded, but inside I knew: from now on I had to take care of myself.


3. Đi làm đủ nghề – Chở gạo suýt mất vốn 3. Doing every kind of work – Almost lost the capital hauling rice

Tôi bắt đầu đi làm đủ nghề. Sáng sớm, tôi ra bến sông, phụ anh Năm – người hay khuân hàng ở chợ – bốc từng bao gạo, từng thùng hàng lên xuống ghe. Vai tôi sưng tấy, tay phồng rộp, nhưng tôi không dám than. Chiều về, tôi phụ mấy chú bán hàng trong chợ, dọn dẹp, sắp hàng, coi tiệm. Thấy người ta chở gạo từ quê ra chợ bán được tiền, tôi cũng mạo muội đi vay mấy người bà con ít tiền, mua vài bao gạo, chở ra chợ bán. Nhưng tôi không biết, thời đó, chở gạo qua trạm kiểm soát là coi như liều mạng. Có lần, tôi chở hai bao gạo từ quê ra, vừa qua khỏi cầu là bị mấy ông quản lý thị trường chặn lại. Họ lục soát, hỏi: – "Gạo đâu ra? Có giấy phép không?" Tôi run rẩy: – "Dạ… gạo con mua ở quê, chở ra chợ bán…" Một ông trong số đó cười khẩy: – "Bán chợ đen hả? Tịch thu!" Tôi van xin: – "Dạ, con vay tiền mua gạo này. Mất là con chết mất…" May sao, anh Năm đi ngang, quen biết với mấy ông đó, nói giúp: – "Thôi, tha cho thằng nhỏ. Nó mới tập làm ăn, chưa biết luật." Họ nhìn nhau, rồi gạt tay: – "Lần sau mà thấy là tịch thu luôn, nhớ chưa?" Tôi vâng dạ rối rít, đẩy xe gạo đi, tay run cầm cập. Lần đó, tôi hiểu: làm ăn thời này, không chỉ cực, mà còn nguy hiểm.

I began doing every kind of work. Early in the morning I went to the river landing and helped Anh Năm – who often carried goods at the market – loading and unloading sacks of rice and crates onto boats. My shoulders swelled, my hands blistered, but I dared not complain. In the afternoons I helped the shopkeepers in the market – cleaning, arranging goods, minding the stalls. Seeing people haul rice from the countryside to the market and earn money, I boldly borrowed a little from relatives, bought a few sacks of rice, and took them to sell. But I did not know that at that time hauling rice past the checkpoints was like risking one’s life. Once, when I was carrying two sacks from the countryside, just after crossing the bridge I was stopped by market-management officers. They searched and asked: – “Where did this rice come from? Do you have a permit?” I trembled: – “I… I bought it in the countryside to sell at the market…” One of them sneered: – “Black-market selling, eh? Confiscated!” I begged: – “Please, I borrowed money to buy this rice. If I lose it I’m finished…” Luckily Anh Năm happened to pass by, knew the officers, and spoke up: – “Let the kid go. He’s just starting out, doesn’t know the rules yet.” They looked at each other and waved: – “Next time we see it, it gets confiscated for good, got it?” I nodded frantically, pushed the cart away, hands shaking. That time I understood: making a living in those days was not only hard – it was dangerous.


4. Được vào học lớp 10 – Năm 16 tuổi 4. Allowed to enter grade 10 – At age 16

Mãi đến năm tôi 16 tuổi, nhờ một người bà con xa đứng ra bảo lãnh, Má tôi mới làm lại được hộ khẩu. Tôi được ghi tên vào trường trung học, học lớp 10 chính quy. Cảm giác được cắp sách tới trường lúc đó quý hơn vàng. Ngày đầu tiên đi học, tôi mặc bộ quần áo cũ nhất, mang đôi dép nhựa đã mòn đế. Bạn bè nhìn tôi, có đứa thì thầm: – "Ổng là con nhà ngụy đó, đừng chơi với ổng." Tôi cắn răng, ngồi vào bàn, mở vở ra viết. Tôi biết: đây là cơ hội cuối cùng của tôi. Tôi phải học, phải thành công, để không phụ lòng Má.

Only when I was 16, thanks to a distant relative who stood as guarantor, Mother was able to re-register the household. I was enrolled in secondary school, regular grade 10. The feeling of carrying books to school then was more precious than gold. On the first day I wore my oldest clothes and plastic sandals with worn soles. Classmates looked at me; some whispered: – “He’s a puppet-regime kid – don’t play with him.” I gritted my teeth, sat at the desk and opened my notebook. I knew this was my last chance. I had to study, had to succeed, so as not to disappoint Mother.


5. Gặp Ngân ở bến sông 5. Meeting Ngân at the river landing

Đầu mùa mưa năm 1977, tôi vừa tròn mười bảy. Hôm ấy tôi phụ anh Năm chuyển hàng ở bến sông. Nước lớn, dòng chảy xiết, mặt sông nổi sóng. Tôi đang cúi buộc lại miệng bao gạo thì nghe một tiếng kêu và tiếng nước dội vào mạn ghe. Một cô gái đang gánh thùng bí của Má ra chợ đã trượt chân ở cầu ván. Cả người cô lẫn thùng bí ngã xuống nước. Thùng bí chặn ngang người, cô chới với giữa dòng nước đục. Tôi không kịp nghĩ. Tôi nhảy ùm xuống sông, bơi tới, luồn tay dưới thùng bí rồi kéo cô ra khỏi dòng nước. Cô bám chặt lấy tay tôi, run lên: – “Cứu em… em không biết bơi.” Khi vào được bờ, cô nằm thở dốc trên bãi cỏ. Tôi hỏi cô có bị đau ở đâu không. Cô lắc đầu, nước mắt còn lẫn với nước sông: – “Cảm ơn anh. Hồi nãy không có anh chắc em chết rồi.” Tôi chỉ nói: – “Lần sau gánh nặng quá thì kêu người ta phụ. Đừng ráng một mình.” Cô ngồi dậy, vuốt mặt rồi nói tên mình là Ngân, nhà ở xóm dưới, phụ Má bán rau với bầu bí ngoài chợ. Tôi nói tên mình là Lập. Lúc Ngân định gánh lại thùng bí, tôi giành lấy. Cô cười: “Anh nhìn cũng ốm nhom mà.” Tôi đáp: “Ốm mà khỏe.” Tôi gánh thùng bí giúp Ngân ra chợ. Trên đường đi, cô kể chuyện vườn rau, chuyện Má hay đau lưng mà vẫn cố làm. Đó là lần đầu tôi gặp Ngân. Về sau nghĩ lại, tôi không nhớ mình đã giúp được bao nhiêu mớ rau. Tôi chỉ nhớ bàn tay cô đã nắm lấy tay tôi giữa nước lớn, và nụ cười cô khi đã lên bờ.

The day I met Ngân, the Mekong Delta sun was scorching. I was helping Anh Năm load goods at the river landing. Sweat soaked my shirt. Suddenly I heard a sharp cry “Á!” then the splash of water. I turned. A girl carrying a huge tub of squash – bigger than she was – had slipped; both she and the tub tumbled into the river. She flailed in the murky current. The tub pressed down on her. She struggled and shouted: – “Help! Somebody help me!” I did not stop to think. I jumped in. The current was strong and muddy. I swam out, slipped my arm under the tub and pulled her free. She clung tightly to my arm, trembling: – “Save me… I can’t swim…” I dragged her to the bank. She lay on the grass, gasping, clothes soaked, face pale. I asked: – “Are you all right? Hurt anywhere?” She shook her head, then looked at me with tears welling: – “Thank you… Lucky you were there. Otherwise I’d be dead.” I smiled: – “It’s nothing. Next time if the load is too heavy, ask someone to help. Don’t force yourself.” She managed to sit up, wiped her face and said: – “My name is Ngân. I live in the lower hamlet. I sell vegetables and squash at the market. This tub is from my mother’s garden; I was carrying it to sell. Who would have thought…” I nodded: – “I’m Lập. I just moved back here. I work for hire – haul rice, carry loads, anything.” Ngân looked at me with eyes that mixed gratitude and curiosity: – “Where do you live? Where is your house?” I pointed to the thatched house by the creek: – “Over there. A small thatched house.” Ngân smiled, a smile as gentle as the Hậu River water: – “Small but charming. You saved me; I must repay the favour.” I waved it off: – “No need. Anyone who sees someone fall would jump in.” Ngân shook her head: – “Not everyone would, anh. I’m very grateful.” Then she stood up and picked up the tub. I took it: – “Let me carry it. You’re weak now.” Ngân laughed: – “You’re weak too. Look how thin you are.” I protested: – “Thin but strong. Trust me.” So I carried the tub of squash for Ngân to the market. On the way she told me about her poor family, parents farming, growing squash and greens. Ngân was the eldest daughter and had to help her mother sell at the market. She did not know many letters, but she spoke sweetly and naturally. From that day on, Ngân and I became friends.

Lập và Ngân bên bờ sông
Mục 5: Lần đầu gặp Ngân ở bến sông (1977)
Section 5: First meeting Ngân at the river landing (1977)

6. Những bức hình kỷ niệm trong trí óc 6. The memory pictures etched in my mind

Sau lần gặp ở bến sông, chúng tôi không thành “hình với bóng” ngay. Tôi vẫn đi làm thuê, Ngân vẫn theo Má ra chợ. Nhưng ngày nào cũng có một lý do rất nhỏ để chạm mặt: cô để dành cho tôi trái xoài chưa dập, tôi xách giúp cô thúng rau qua đoạn cầu ván trơn. Có bữa Má Ngân mời tôi ăn cơm. Mâm cơm chỉ có nồi canh chua cá linh, ít rau đắng, chén nước mắm. Ngân gắp cho tôi miếng cá, nói: – “Anh ăn đi. Làm từ sáng tới giờ rồi.” Câu nói ấy bình thường thôi. Nhưng với một đứa luôn ăn vội cho qua bữa như tôi, nó ở lại rất lâu. Chúng tôi cũng có những chiều ngồi ở quán chú Ba, mỗi người một ly nước, nhìn ra sông. Ngân hay chọc tôi vì cứ nhăn trán suy nghĩ. Tôi nói mình đang tập viết thơ. Cô không khen, chỉ cười: “Viết được thì đưa em coi. Dở em cũng nói dở.” Chính cái thật thà ấy khiến tôi muốn viết cho cô. Đêm có đoàn cải lương về sân đình, chúng tôi ngồi cách nhau vừa đủ để không ai phải ngượng. Tôi không còn nhớ tuồng hát gì. Tôi chỉ nhớ mùi bồ kết trong tóc Ngân, bàn tay cô nắm vạt áo lúc câu vọng cổ buồn, và cảm giác lần đầu tiên trong đời có một người để mình mong được trở về.

From the day I met Ngân, we were like shadow and form. The memory pictures in my mind, like the treasures I made for Ngân, have sunk deep into my memory so that I can never forget them. They are like a mark, an image etched forever into my soul. The two of us eating rice from a low tray on the ground, pouring mixed vegetable soup. Ngân’s mother cooked a pot of sour soup with linh fish, water-lily stems and bitter greens. We squatted by the stove and ate until our stomachs were full. Ngân picked a piece of fish for me and smiled: – “Eat, anh. This fish is delicious. I caught it in the creek.” I looked at Ngân and felt a strange warmth. The two of us drinking filtered coffee at the little shop at the head of the hamlet. Uncle Ba’s shop had only a few wooden tables and chairs looking out on the river. I ordered two iced milk coffees; Ngân sat opposite, holding a conical hat and fanning herself. She looked at me and smiled: – “You drink coffee all the time – aren’t you afraid of insomnia?” I laughed: – “If I can’t sleep I’ll stay up late writing poems for you.” Ngân blushed and lightly slapped my shoulder: – “What a country-bumpkin poem! But… I like it.” The two of us watching hát bội and cải lương at the communal-house yard. That night a troupe came to the village and performed “Tấm Cám”. We sat close under the flickering oil lamps. Ngân loved it and clapped loudly. I looked at her and felt an unusual happiness. I do not remember what the troupe performed. I only remember the scent of bồ-kết in Ngân’s hair. The two of us going to the floating market. I rowed the sampan; Ngân sat at the bow holding a conical hat against the sun. The boat glided past fruit barges, vegetable boats, bánh tét sellers. Ngân bought me a green mango; I bought her a string of sticky-rice parcels. We laughed and talked as if it were Tết.

Lập và Ngân ăn cơm mâm đất
Mục 6: Một bữa cơm giản dị trong những ngày đầu quen nhau (1977)
Section 6: A simple meal in the first days of their friendship (1977)

7. Gặp anh Tư – Người thợ đồng hồ bệnh lao 7. Meeting Anh Tư – The watchmaker with tuberculosis

Một hôm, tôi đang phụ dọn hàng trong chợ, thấy một anh trung niên ho sù sụ, người gầy rộc, ngồi trước một tiệm đồng hồ nhỏ. Anh sửa từng chiếc đồng hồ, tay run run, mồ hôi nhễ nhại. Thỉnh thoảng, anh lại lấy khăn che miệng, ho ra máu. Tôi tò mò, lại gần hỏi: – "Anh ơi, anh sửa đồng hồ hả? Dạy em được hông?" Anh nhìn tôi, cười mệt mỏi: – "Mày muốn học nghề hả? Nghề này cực và phải kiên nhẫn. Nhưng cái gì hư mà còn sửa được thì vẫn có người cần." Tôi thật thà: – "Em hông có trường học, cũng hông có nghề. Em chỉ muốn kiếm cái gì làm ăn, nuôi Má với em." Anh im lặng một hồi, rồi gật đầu: – "Thôi, được. Mày rảnh thì qua đây, tao chỉ. Tao tên Tư. Tao cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa. Bệnh lao nó ăn tao từ từ rồi." Tôi sững người: – "Anh… anh bị lao hả?" Anh Tư cười buồn: – "Ừ. Tao biết tao chết sớm. Tiệm này tao cũng chẳng biết để lại cho ai. Mày chịu khó học, sau này tao để lại cho mày." Từ đó, ngày nào rảnh, tôi đều qua tiệm anh Tư học sửa đồng hồ. Anh chỉ tôi từng chút: cách tháo máy, cách thay dây, cách lên dây cót, cách phân biệt đồng hồ tốt, đồng hồ dỏm. Tôi học như người chết đuối vớ được phao. Có lần, anh Tư hỏi thầm: – "Lập, mày ở gần tao hoài, không sợ bị lây bệnh lao hả?" Lúc đó tôi không biết sợ là gì. Tôi nhìn anh, cười: – "Em chưa hiểu hết về bệnh này, nhưng từ nay em sẽ cẩn thận hơn. Anh nghỉ đi, để em lo phần việc bên ngoài." Tôi cười sau khi nói. Anh Tư nhìn tôi một lúc, rồi cũng cười buồn, không nói gì thêm. Một buổi chiều, anh Tư gọi tôi lại, giọng yếu ớt: – "Lập nè, tao biết tao không sống lâu đâu. Mày chịu khó, tao để lại tiệm này cho mày. Mày ráng làm ăn, đừng để nó đóng cửa." Tôi nghẹn ngào: – "Anh Tư… em cảm ơn anh. Nhưng em… em hông có tiền sang lại tiệm." Anh Tư lắc đầu: – "Tao hông cần tiền. Tao chỉ cần thấy nghề này không bị mai một. Mày hứa với tao, mày sẽ giữ tiệm này, dạy lại cho người khác, là tao mừng rồi." Tôi gật đầu, nước mắt chảy dài: – "Em hứa, anh Tư. Em sẽ giữ tiệm này." Anh Tư cười, nụ cười nhạt nhòa: – "Thôi, mày về đi. Tao mệt." Vài tháng sau, anh Tư qua đời. Tiệm đồng hồ nhỏ giữa chợ giờ thuộc về tôi. Nhưng tôi không có tiền mua dụng cụ, không có vốn nhập hàng. Tôi đứng trước tiệm, lòng ngổn ngang.

One day while helping tidy stalls in the market I saw a middle-aged man coughing heavily, gaunt, sitting in front of a small watch shop. He was repairing watches one by one, hands trembling, sweat pouring. Now and then he covered his mouth with a cloth and coughed blood. Curious, I approached and asked: – “Anh, do you repair watches? Can you teach me?” He looked at me and smiled wearily: – “You want to learn the trade? It’s hard work, little money, and nowadays who still uses mechanical watches? Everyone uses electronic ones.” I answered honestly: – “I have no school and no trade. I just want something to do to support my mother and little sibling.” He was silent a moment, then nodded: – “All right. When you’re free come over, I’ll show you. My name is Tư. I won’t live much longer. Tuberculosis is eating me bit by bit.” I was stunned: – “Anh… you have TB?” Anh Tư smiled sadly: – “Yes. I know I’ll die young. I don’t know who to leave this shop to. If you work hard and learn, later I’ll leave it to you.” From then on, whenever I had free time I went to Anh Tư’s shop to learn watch repair. He taught me every detail: how to take a movement apart, change the mainspring, wind it, tell good watches from fakes. I learned like a drowning man clutching a float. One day Anh Tư asked me quietly: – “Lập, you stay close to me all the time – aren’t you afraid of catching tuberculosis?” At that time I did not know what fear was. I looked at him and smiled: – “Life and death are already decided by fate, anh. If you can infect me then I’ve already been infected. My resistance is very strong – no germ can make me sick.” I smiled after saying it. Anh Tư looked at me for a moment, then smiled sadly and said nothing more. One afternoon Anh Tư called me over, his voice weak: – “Lập, I know I won’t live long. Work hard; I’m leaving this shop to you. Make a living from it, don’t let it close.” I was choked up: – “Anh Tư… thank you. But I… I have no money to take over the shop.” Anh Tư shook his head: – “I don’t need money. I only need to see the trade not die out. Promise me you’ll keep this shop and teach others, and I’ll be happy.” I nodded, tears streaming: – “I promise, Anh Tư. I’ll keep this shop.” Anh Tư smiled faintly: – “Go home now. I’m tired.” A few months later Anh Tư passed away. The little watch shop in the middle of the market now belonged to me. But I had no money for tools, no capital for stock. I stood in front of the shop, heart in turmoil.

Lập và Ngân tại tiệm đồng hồ
Mục 7 & 8: Học nghề sửa đồng hồ và niềm tin Ngân dành cho Lập (1977)
Sections 7 & 8: Learning watch repair and Ngân's trust in Lập (1977)

8. Ngân dốc hết tiền, mượn tiền bà ngoại giúp tôi 8. Ngân poured out all her money, borrowed from her grandmother to help me

Tôi tâm sự với Ngân về tiệm đồng hồ. Ngân nghe hết, không vội an ủi. Cô chỉ hỏi kỹ tôi cần những món dụng cụ nào, cần bao nhiêu vốn để mở lại từng việc nhỏ. Ba ngày sau, Ngân mang đến một gói vải cũ. Trong đó là ít tiền cô dành dụm từ những buổi bán rau, cùng chiếc vòng bạc nhỏ cô đã xin phép Má để bán. – “Không nhiều đâu anh. Mình mua cái cần trước. Dây cót, kềm, kính lúp… thiếu gì tính sau.” Tôi không nhận ngay: – “Đó là tiền của em. Anh không muốn vì anh mà em phải mất đi thứ đã dành dụm.” Ngân nhìn tôi, giọng vẫn nhỏ nhưng chắc: – “Em không cho anh vì thương hại. Em đưa vì em tin tay anh, tin anh sẽ làm đàng hoàng. Khi nào tiệm khá lên, anh trả lại cho em. Vậy là được.” Bà ngoại Ngân biết chuyện. Bà không cho nhiều, chỉ cho mượn một ít và dặn: “Làm ăn thì phải giữ chữ tín, nghe con.” Lời dặn ấy làm tôi thấy số tiền nặng hơn cả số vàng. Đêm đó, ngồi trước bàn sửa đồng hồ, tôi hiểu Ngân không hứa hẹn điều lớn lao. Cô chỉ lặng lẽ đứng về phía tôi khi tôi chưa có gì trong tay. Tôi tự nhủ phải học cho tới nơi, làm cho tử tế – để một ngày có thể nhìn cô mà không thấy mình phụ lòng tin ấy.

I confided in Ngân. After listening she was silent a while, then said: – “Wait a few days for me.” A few days later Ngân handed me a small bundle of money: – “I sold all the things I had saved. Whatever is here, take it to buy tools and stock.” I held the money, hands trembling: – “Ngân… this is your money. You were saving it for marriage…” Ngân smiled, tears welling: – “I don’t need any husband except you. You have a trade – I’m happy. If you can make a living – I’m even happier.” I still hesitated: – “But… it’s not enough capital yet…” Ngân bit her lip and said: – “I’ll go borrow from Grandmother. I’ll say it’s for medicine for Mother. I’ll pay her back little by little.” I started: – “Ngân! How can you do that? What if…” Ngân cut me off: – “I love you. I trust you. If you succeed in business I’ll be happier than keeping money in my pocket.” I held Ngân tightly, unable to speak. That night I sat in the little watch shop, looking at every tool Anh Tư had left, heart heavy. I vowed to myself: I must succeed, not only to repay Anh Tư, but to be worthy of Ngân’s love.


9. Những buổi chiều bên bờ sông 9. Evenings by the river

Những ngày sau đó, tình yêu của chúng tôi lớn lên bằng những điều rất nhỏ. Chiều nào tôi sửa xong mấy chiếc đồng hồ cuối cùng, Ngân bán hết rau, hai đứa lại ngồi ở mép bến nhìn ghe qua lại. Ngân kể chuyện Má bán ế, chuyện một bà khách khó tính rồi cũng cười vì Ngân biết lựa rau, chuyện con mèo mướp vừa đẻ. Tôi nghe để thấy đời mình bớt chật chội. Có đêm trăng sáng, chúng tôi ngồi sát nhau trên cầu ván. Ngân chỉ lên một khoảng trời: – “Anh Lập, mai mốt anh có đi đâu xa, anh còn nhớ bến này không?” Tôi không trả lời ngay. Tôi nhìn bàn tay cô đặt trên ván, rồi nắm lấy: – “Anh sẽ nhớ. Nhưng anh muốn có ngày mình không phải ngồi nhớ nữa, mà được ở cạnh nhau.” Ngân cười, nụ cười vừa vui vừa dè dặt: – “Em không cần nhà lớn. Chỉ cần Ba Má yên, anh làm việc được, tối về mình còn nói chuyện với nhau.” Lời ước của Ngân giản dị đến mức làm tôi thương cô hơn. Tôi không hứa điều gì quá sức mình. Tôi chỉ nói: “Anh sẽ cố. Còn em, đừng để anh phải đi một mình.” Ngân siết nhẹ tay tôi. Tiếng ghe máy xa dần trong đêm, và lúc ấy chúng tôi tin rằng chỉ cần cố gắng thì mọi điều còn có thể giữ được.

We had known each other for nearly two years. In the late afternoons, after I finished repairing watches and Ngân had sold all her vegetables, we would sit by the river watching the boats pass. Ngân told stories of the market, of her mother’s slow sales, of the new litter of the family tabby cat. Listening to her, I felt a strange warmth. On bright moonlit nights we lay on the grass counting stars. Ngân pointed to the Milky Way and asked: – “Anh Lập, there are so many stars – can you count them?” I laughed: – “Too many to count. But… I can count one thing.” Ngân was curious: – “What is it?” I looked at her and said softly: – “I can count… how many times you smile.” Ngân blushed and lightly hit my shoulder: – “You’re so cheeky! But… I like it.” Then she lay still, looking at the sky, her voice light as the breeze: – “Anh Lập, I wish we could stay like this forever. No war, no separation – only the two of us.” (At that time there was no longer war, but there was also no freedom and they were still very poor. Ngân only wanted everlasting happiness together, never to be parted.) I held her hand tightly: – “Yes, I wish the same. I promise, once I make a living I’ll marry you and we’ll stay together always.” Ngân smiled, but there was a hint of sadness in her eyes. I did not understand why. Only later did I realise it was Ngân’s premonition of the upheavals to come.

Lập và Ngân bên bờ sông chiều tà
Một buổi chiều bên bến sông Cần Thơ – hình minh họa tái hiện
An evening at the Cần Thơ river landing – recreated illustration

10. Những bài thơ mùi mẫn – Lập viết tặng Ngân 10. Tender poems – Lập wrote for Ngân

Tôi thương Ngân lắm. Tôi làm thơ, viết sau tờ lịch cũ, trên trang vở, trên lá chuối khô. Mỗi bài thơ là một kỷ niệm, một lời yêu thương.

I loved Ngân very much. I wrote poems on the back of old calendars, in notebooks, on dried banana leaves. Each poem was a memory, a word of love.

Bài thơ 1: Áo bà ba

Poem 1: The áo bà ba

Áo bà ba bạc màu sương nắng Mà sao anh nhớ hoài không quên Qua cầu em bước nghiêng nghiêng Làm con nước dưới mạn thuyền lao xao Anh nghèo chẳng có ngọt ngào Chỉ mang thương nhớ gửi vào câu thơ Mai này dù có xa bờ Nhìn màu áo cũ lại chờ bóng em.
The áo bà ba faded by dew and sun Yet why do I remember it without end You crossed the bridge, steps slightly tilted Making the water under the boat’s side restless I am poor, have no sweet words to offer Only carry longing into lines of poetry Even if one day I am far from the shore Seeing the old colour of the shirt I wait again for your shadow.

Ngân đọc, mặt đỏ bừng, đánh nhẹ vai tôi: – "Thơ gì mà quê một cục vậy hén! Nhưng mà… em thích."

Ngân read it, her face flushed, and lightly slapped my shoulder: – “What a country-bumpkin poem! But… I like it.”

Bài thơ 2: Bến sông chiều

Poem 2: River landing at dusk

Chiều nay bến vắng đò ngang Mình anh ngồi ngó nắng vàng trôi xuôi Con chim nhỏ lạc cuối trời Như lòng anh lạc một người trong tim Sông dài nước chảy lặng im Mà nghe nhung nhớ nổi chìm từng cơn Em đi để lại cô đơn Cho hàng dừa nước xanh hơn mọi ngày.
This afternoon the landing is empty of ferries I sit alone watching the golden sunlight drift downstream A small bird lost at the edge of the sky Like my heart lost one person inside The long river flows in silence Yet I hear longing rise and fall in waves You left and left loneliness behind Making the water-coconut grove greener than any other day.

Ngân đọc xong, nước mắt lưng tròng: – "Anh viết thơ hay quá. Em giữ làm của quý."

After reading, Ngân’s eyes filled with tears: – “You write such beautiful poetry. I’ll keep it as a treasure.”

Bài thơ 3: Quán cà phê đầu xóm

Poem 3: The coffee shop at the head of the hamlet

Ly cà phê nhỏ trước hiên Khói bay lãng đãng qua miền nhớ thương Em ngồi bên ấy vấn vương Tay xoay tà áo, mắt vương nắng chiều Anh nhìn chẳng biết bao nhiêu Mà lòng thấy đủ những điều bình yên Mai này đời có đảo điên Nhớ ly cà phê cũ, nhớ duyên ban đầu.
A small cup of coffee in front of the veranda Smoke drifts lazily through the realm of longing You sit on that side, lingering Hand turning the hem of your shirt, eyes catching the afternoon sun I look and do not know how much Yet my heart feels full of peaceful things Even if life later turns upside down I will remember the old coffee cup, remember the first bond.

Ngân cười: – "Thơ này em thích nhất. Như hình mình hôm đó vậy."

Ngân smiled: – “This poem I like best. It’s exactly like the picture of us that day.”

Bài thơ 4: Đêm nghe cải lương

Poem 4: Night listening to cải lương

Sân đình đèn sáng lung linh Tiếng đờn vừa dứt lòng mình chơi vơi Người trên sân khấu khóc đời Người dưới sân khấu nhớ người ngồi bên Anh đâu nhớ chuyện trung hiền Hay câu oan khuất ở miền nhân gian Anh chỉ nhớ mái tóc ngang Thoảng mùi bồ kết đêm trăng năm nào.
The communal-house yard lights glitter The music just ends and my heart drifts People on stage weep for life People below stage remember the one sitting beside them I do not remember the tale of loyalty and virtue Or the grievances of the human world I only remember the horizontal fringe of hair And the faint scent of bồ-kết on a moonlit night of years past.

Ngân đọc, cười khúc khích: – "Anh làm thơ như kể chuyện vậy đó! Nhưng mà… em thương."

Ngân read and giggled: – “You write poems like telling stories! But… I love it.”

Bài thơ 5: Mùa nước nổi

Poem 5: Flood season

Nước lên ngập mé bờ kinh Xuồng ai thấp thoáng bóng hình người thương Em ngồi cuối chiếc xuồng con Đội nón lá nhỏ nhìn con nước đầy Anh chèo chẳng thấy mỏi tay Vì nghe tiếng gọi đâu đây ngọt ngào Cả đời giông gió biết bao Mỗi mùa nước nổi lại nao nao lòng.
Water rises flooding the canal banks Whose sampan shows the faint silhouette of the beloved You sit at the end of the small boat Wearing a small conical hat watching the full water I row without feeling tired arms Because I hear a sweet call from somewhere A whole life of storms – who knows how many Each flood season the heart flutters again.

Bài thơ 6: Cho người con gái miền Tây

Poem 6: For the girl of the Mekong

Em là con gái miền Tây Nói cười như gió ru mây cuối chiều Mắt em trong tựa nước triều Tóc em thơm cả một chiều phù sa Từ ngày quen chiếc áo bà ba Anh mang thương nhớ đi xa không rời Mai này góc biển chân trời Tên em vẫn ở một nơi trong lòng.
You are a girl of the Mekong Your speech and laughter like wind lulling the clouds at dusk Your eyes clear as the tidal water Your hair fragrant with a whole afternoon of alluvial soil Since the day I knew the áo bà ba I carry longing far away and never leave it Even if one day at the corner of the sea or the horizon Your name still stays in a place inside my heart.

Bài thơ 7: Lời hứa dưới trăng

Poem 7: Promise under the moon

Đêm ấy trăng sáng bên sông Anh đem lời hứa cột vào hàng dừa Mai này dù nắng hay mưa Dù cho cách trở cũng chưa đổi lòng Bao giờ còn nước dòng sông Còn trăng tháng tám còn mong gặp người Bao giờ còn tiếng em cười Thì anh còn có một trời bình yên.
That night the moon was bright by the river I tied my promise to the row of coconut trees Even if later there is sun or rain Even if distance intervenes I will not change my heart As long as the river still has water As long as the August moon remains I still hope to meet you As long as the sound of your laughter remains Then I still have a whole sky of peace.

Ngân đọc xong, ôm chặt tôi, khóc: – "Em tin anh. Em chờ anh."

After reading, Ngân held me tightly and cried: – “I believe you. I will wait for you.”

Bài thơ 8: Thư chưa gửi

Poem 8: Unsent letter

Anh ngồi viết mấy dòng thơ Viết rồi lại xóa vì sợ em cười Sợ câu chữ chẳng thành lời Không mang hết được một trời nhớ nhung Từ ngày xa bến xa sông Xa em mới biết trong lòng có em Ngày nào còn gặp lại thêm Anh thôi viết nhớ để nhìn em thôi.
I sit writing a few lines of poetry Write then erase for fear you will laugh Afraid the words will not become speech Cannot carry the whole sky of longing Since the day I left the landing and the river Only far from you did I know you were inside my heart The day we meet again I will stop writing of longing and just look at you.

Bài thơ 9: Ngân Hà

Poem 9: Ngân Hà (Milky Way)

Người ta ngắm dải ngân hà Còn anh chỉ ngắm người ta mỗi ngày Đêm về sao sáng trên cây Mà không sáng bằng đôi tay em cầm Ngân hà ở tận xa xăm Ngân của anh ở âm thầm cạnh bên Đời người trăm nhớ ngàn quên Riêng em anh nhớ từ đêm đầu đời.
People gaze at the Milky Way While I only gaze at one person every day At night the stars shine on the trees Yet they do not shine as bright as the hands you hold The Milky Way is far away My Ngân is quietly beside me A human life has a hundred memories and a thousand forgettings Only you I have remembered since the first night of my life.

Bài thơ 10: Quê hương mang bóng em

Poem 10: Homeland that carries your shadow

Mai này đi khắp phương trời Anh mang theo cả một thời nhớ thương Mang theo bến nước quê hương Mang theo con sáo gọi sương đầu mùa Mang theo tiếng gió đong đưa Mang theo chiếc áo ngày xưa em cài Tới đâu anh cũng ngậm ngùi Vì quê hương đã mang hình bóng em.
Even if one day I travel to every direction I will carry with me a whole time of longing Carry the water landing of the homeland Carry the oriole that calls in the first mist of the season Carry the sound of the rocking wind Carry the shirt you once pinned Wherever I go I feel a quiet ache Because the homeland already carries the shape of your shadow.

11. Lên Sài Gòn học đại học 11. Going to Saigon for university

Năm tôi 18 tuổi, vừa tốt nghiệp lớp 12. Nhờ sự nỗ lực không ngừng, tôi thi đậu vào một trường đại học ở Sài Gòn. Ngày tôi nhận được giấy báo nhập học, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì cuối cùng mình cũng có tương lai. Lo vì phải xa Ngân. Đêm trước ngày đi, Ngân ra bến sông tiễn tôi. Ngân không khóc, nhưng mắt đỏ hoe. Ngân dúi vào tay tôi một gói nhỏ: – "Em gói cho anh mấy cái bánh ú, với một cuốn sổ nhỏ. Anh lên đó, rảnh thì viết thơ cho em nghen." Tôi mở gói ra, thấy cuốn sổ nhỏ xíu, bìa vẽ hình hai con chim đậu trên cành tre. Tôi cười: – "Ngân vẽ đó hả?" Ngân gật đầu: – "Em vẽ đại thôi, hông đẹp. Anh đừng cười." Tôi cất cuốn sổ vào túi áo, nắm chặt tay Ngân: – "Ngân ở nhà giữ sức khỏe. Anh hứa, Tết anh về." Ngân gật đầu, rồi quay mặt đi, giấu những giọt nước mắt.

When I was 18, just graduated from grade 12. Thanks to continuous effort I passed the entrance exam to a university in Saigon. The day I received the admission letter I was both happy and worried. Happy because at last I had a future. Worried because I would be far from Ngân. The night before I left, Ngân came to the river landing to see me off. She did not cry, but her eyes were red. She pressed a small package into my hand: – “I wrapped a few sticky-rice parcels for you, and a small notebook. When you’re up there, if you have free time write poems for me, okay?” I opened the package and saw a tiny notebook whose cover had two birds perched on a bamboo branch. I smiled: – “Did Ngân draw this?” Ngân nodded: – “I just drew it roughly, not nice. Don’t laugh.” I put the notebook in my shirt pocket and held Ngân’s hand tightly: – “Stay healthy at home. I promise I’ll come back for Tết.” Ngân nodded, then turned away to hide her tears.


12. Những lần gặp nhau ít ỏi – Tết sum vầy 12. The few meetings – Tết reunions

Những cái Tết là khoảng thời gian đẹp nhất của tôi và Ngân. Tết năm 1979, tôi về Cần Thơ. Ngân dẫn tôi về nhà ra mắt Ba Má. Má Ngân nhìn tôi, cười hiền: – "Thằng Lập hả? Nghe Ngân nói hoài. Nhà nghèo mà chịu khó học, vậy là tốt rồi. Vô nhà ngồi chơi con." Ba Ngân ngồi bên bàn trà, gật gù: – "Thằng nhỏ coi bộ hiền lành, được đó. Nhưng mà lo học cho xong cái đã, rồi tính chuyện cưới xin." Tôi cúi đầu: – "Dạ, con cảm ơn bác." Tết năm 1980, tôi dẫn Ngân về nhà tôi chơi. Má tôi nhìn Ngân, nắm tay Ngân: – "Con gái miền Tây hiền lành, dễ thương quá. Lập có phước lắm mới gặp được con." Ngân cười, đôi mắt sáng long lanh: – "Dạ, con cảm ơn bác." Tối hôm đó, hai đứa ngồi bên bến sông, ngắm pháo hoa. Ngân tựa đầu vào vai tôi: – "Lập nè, em ước gì mình cứ mãi như vầy. Hông có chiến tranh, hông có chia ly, chỉ có mình với nhau thôi." (Giữa những thiếu thốn của đời sống, Ngân chỉ mong hai người được bình yên, không phải xa rời.) Tôi siết chặt tay Ngân: – "Ừ, anh cũng ước vậy. Anh hứa, sau khi tốt nghiệp, anh sẽ về Cần Thơ, cưới em, rồi mình sống bên nhau hoài." Ngân cười, nhưng trong mắt Ngân có gì đó buồn buồn. Tôi không hiểu vì sao. Sau này tôi mới biết, đó là linh cảm của Ngân về những biến cố sắp tới.

The Tết holidays were the most beautiful times for Ngân and me. Tết 1979 I returned to Cần Thơ. Ngân took me home to meet her parents. Mother Ngân looked at me and smiled kindly: – “So this is Lập? Ngân talks about him all the time. Poor family but studies hard – that’s good already. Come in and sit, child.” Father Ngân sat by the tea table and nodded: – “The boy looks gentle, good enough. But finish studying first, then talk about marriage.” I bowed my head: – “Yes, thank you uncle.” Tết 1980 I brought Ngân to my house. Mother looked at Ngân and took her hand: – “A Mekong girl, so gentle and lovely. Lập is very lucky to have met you.” Ngân smiled, eyes shining: – “Thank you, aunt.” That evening we sat by the river watching fireworks. Ngân rested her head on my shoulder: – “Lập, I wish we could stay like this forever. No war, no separation – only the two of us.” (At that time there was no longer war, but there was also no freedom and they were still very poor. Ngân only wanted everlasting happiness together, never to be parted.) I held her hand tightly: – “Yes, I wish the same. I promise after graduation I’ll return to Cần Thơ, marry you, and we’ll live together always.” Ngân smiled, but there was a hint of sadness in her eyes. I did not understand why. Only later did I realise it was Ngân’s premonition of the upheavals to come.


13. Chuyến ra đi tìm tự do – Tháng 8 năm 1980 13. Leaving to seek freedom – August 1980

Tháng 8 năm 1980, khi đang ở Sài Gòn chuẩn bị cho năm học cuối, tôi nhận được tin từ Hùng. Gia đình bạn đang chuẩn bị một chuyến đi bằng ghe. Họ cần người biết xem hướng và dùng dụng cụ định hướng ngoài biển. Hùng không vẽ cho tôi một cuộc đời dễ dàng; nó chỉ nói có một con đường để thử tìm tự do và một tương lai khác cho mình, cho những người sẽ đến sau. Tôi nghĩ đến Ngân trước tiên. Suốt mấy năm, trong mọi dự tính của tôi đều có cô. Nếu chỉ nghĩ cho lòng mình lúc ấy, tôi đã ở lại. Nhưng tôi cũng nghĩ đến những gì gia đình mình đã trải qua, đến một đời sống mà đường đi của một người có thể khép lại trước khi người ấy kịp chọn. Tôi muốn được sống tự do và tự chịu trách nhiệm cho tương lai của mình. Tôi muốn những đứa trẻ sinh ra sau này có nhiều lựa chọn hơn tôi. Tôi biết chiếc ghe không bảo đảm điều gì, kể cả ngày mai còn sống. Đêm ấy, tôi về Cần Thơ để nói với Ngân, vì tôi không thể ra đi mà giấu cô. Tôi kể cho Ngân nghe về chuyến đi và hỏi cô có đi cùng không. Ngân nghe hết rồi nói cô phải ở lại. Má cô đang bệnh, Ba cô đã già. Nhưng Ngân còn nghĩ đến Má tôi và gia đình tôi: khi tôi đi xa, cô sẽ ở gần để hỏi han, đỡ đần họ trong những việc mình có thể làm. Tôi đã mong cô đổi ý; rồi tôi hiểu việc ở lại của cô không chỉ là không thể rời Ba Má, mà còn là một cách thương tôi và giữ lấy mối dây giữa hai gia đình. Tôi cũng nói mình có thể ở lại. Ngân không đòi điều đó. Cô biết vì sao tôi muốn đi, dù điều ấy có nghĩa hai đứa phải xa nhau. Tôi không biết hết những gì Ngân nghĩ trong đêm ấy. Tôi chỉ biết cô không làm nhẹ nỗi sợ của tôi, và tôi cũng không làm nhẹ nỗi đau của cô. Chúng tôi ngồi bên nhau đến khuya. Tôi nhớ bàn tay Ngân trong tay mình; đó là bàn tay đã cùng Má bán rau, đã đưa tôi những đồng tiền dành dụm khi tiệm đồng hồ cần vốn. Sáng mai, cô sẽ ở lại với Ba Má cô, và còn thay tôi quan tâm đến Má cùng gia đình tôi; tôi bước xuống ghe. Không ai trong hai đứa được giữ tất cả những gì mình thương. Hiểu cho lựa chọn của nhau là điều cuối cùng chúng tôi còn có thể làm cho nhau lúc ấy.

In August 1980, while I was in Saigon preparing for the final year of university, I received news from my close friend Hùng. Hùng’s family was preparing an escape by boat. They had a small vessel, a little gold, and contacts far away. His father needed me because I had studied surveying and knew how to navigate at sea. Hùng said to me: – “Lập, come with me. We are going to seek freedom, to find a wider future for ourselves and for the children who may come after us. Over there, we can begin again.” I was silent. I thought of Ngân. I thought of the promises I had made to her. I told Hùng: – “I still have Ngân in the countryside. I already promised her.” Hùng looked at me and sighed: – “I know. But leaving does not mean abandoning home or the person you love. It can mean finding a path so that one day you can care for them.” I still shook my head. Hùng added: – “My father says Ngân can come too. Go home and ask her.” I returned to Cần Thơ that very night. I met Ngân by the river landing. She was sewing a shirt; when she saw me she was overjoyed: – “Why did you come back so suddenly? Is something wrong?” I took her hand and told her everything. I said: – “Ngân, Hùng’s family is preparing to leave by boat. His father needs me because I can navigate. He said you can come too. Let’s go, em – to seek freedom and a future for ourselves and for the children who may come after us.” Ngân was silent for a long time. Then she let go of my hand and shook her head: – “I’m not going.” I was stunned: – “Why, Ngân? I want us to go so that we can have freedom and a future, so that our descendants may have more choices.” Ngân looked at me, eyes brimming: – “You know I love you. But I still have Mother, still have Father. Mother is ill, Father is old. If I leave, who will care for them? Anh, I am a daughter. Filial piety must come first. I cannot abandon my parents.” I was choked: – “But… we love each other. Don’t you love me?” Ngân cried: – “I love you. Very much. But if I leave, who will remain with Mother and Father? I could not live with my conscience. You go. Go to seek freedom and a future for yourself and for those who come after you. I will stay and care for my parents. We… we have affinity but not destiny.” I held her hand tightly in silence: – “Ngân, I’m not going anymore. I’ll stay with you.” Ngân shook her head, tears streaming: – “You’re so foolish. If you stay, both of us will be trapped. You go. After you go, just remember me – that’s enough. I promise I will wait for you. Wait forever.” I held Ngân tightly; my own tears fell. That night we sat together without another word. We only heard the waves against the creek bank, the frogs calling, and the stifled sobs of two hearts breaking.


14. Rời bến Ninh Kiều 14. Leaving Ninh Kiều landing

Sáng hôm sau, trong hành lý của tôi có vài bộ quần áo, cuốn sổ thơ Ngân tặng và tấm hình chụp chung ngày Tết. Ở bến, chúng tôi còn rất nhiều điều muốn nói, nhưng không câu nào có thể làm chuyến đi bớt nguy hiểm hay cuộc chia tay bớt thật. Tôi nhìn Ngân để nhớ gương mặt cô khi còn được đứng gần. Chiếc ghe rời bến. Tôi ngoái lại, thấy Ngân vẫn ở đó. Tôi không biết ngày nào sẽ gặp lại cô, cũng không biết mình có đến được bờ bên kia hay không. Khi ấy tôi mới hai mươi tuổi. Trong lòng tôi chỉ có một câu hỏi cứ trở đi trở lại: vì sao? Có lẽ câu hỏi ấy đã từng thức trắng trong lòng hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu chàng trai trẻ của thời đó: vì sao phải rời Mẹ Cha, Anh Em, những người thân còn đang đi học, và người con gái mình yêu bằng cả tấm lòng? Không phải vì tôi hết yêu quê hương. Không phải vì tôi yêu Ngân ít đi. Chính vì yêu, nên bước xuống ghe mới đau đến như vậy. Tôi đi tìm Tự Do: đi tìm quyền được tự chọn đường đời, được sống có trách nhiệm với tương lai của mình, và mong những đứa trẻ sinh ra sau này có nhiều lựa chọn hơn tôi. Tự Do chỉ là hai chữ, nhưng để đi tìm hai chữ ấy, có khi một con người phải để lại gần như tất cả phía sau. Tôi biết biển không hứa hẹn ngày mai. Tôi không coi nhẹ sinh mạng; tôi chỉ hiểu rằng sự luyến tiếc lớn nhất không phải là sợ cho riêng mình, mà là phải xa Ngân, xa Má, xa Mẹ Cha, xa căn nhà, bến sông và những người mình thương. Có ai hiểu được nỗi thao thức, vấn vương của một chàng trai hai mươi tuổi trong khoảnh khắc ấy không? Tôi bước lên ghe không phải vì lòng đã cạn tình, mà vì trong tôi còn một khát vọng chưa thể gọi tên cho trọn vẹn: phải đi để tìm một chân trời tự do hơn cho đời mình và cho con cháu sau này. Ngân còn Ba Má cần được chăm sóc. Vậy mà khi tôi đi, cô vẫn nghĩ đến Má và gia đình tôi, những người tôi không thể ở bên để hỏi han, đỡ đần. Cô không thể biết chiếc ghe có qua được biển hay không. Cô vẫn phải thức dậy mỗi sáng, làm những việc cần làm cho cả hai gia đình, mang theo một nỗi chờ mà không ai có thể hứa ngày kết thúc. Tôi đã rời bến một lần; Ngân phải ở lại với sự vắng mặt ấy qua từng ngày. Gần nửa thế kỷ sau, tôi mới dám nhìn lâu vào điều đó. Tôi từng kể về chuyến đi của mình như một sự hy sinh. Còn sự hy sinh của Ngân thì lặng lẽ hơn, và có lẽ lớn hơn nhiều. Tôi không có mặt để chứng kiến hết những ngày cô đã sống. Nghĩ đến đó, tôi chỉ muốn gọi tên cô thật khẽ: Ngân ơi, hồi ấy anh chưa hiểu hết. Nếu con cháu đọc đến đây, xin hãy nhớ cả hai người ở bến sông ấy. Có người rời đi để tìm Tự Do; có người ở lại để Mẹ Cha và gia đình không bị bỏ quên. Khi chiếc ghe khuất bến, tôi vẫn chưa biết hết Ngân sẽ phải gánh những gì.

The next morning I packed my belongings. In the bag there were only a few sets of clothes, the poetry notebook, and the photo of Ngân taken together at Tết. I looked at Ngân for the last time. She stood on the bank waving, her mouth saying something I could not clearly hear. I only knew that from that moment my life turned a new page. The river landing in the early mist was hazy. The small boat left the landing, gathered into the larger vessel, and glided away into the Mekong night. I sat curled up, clutching tightly the poetry notebook Ngân had given me. In my heart there was only one question: **When will I ever see Ngân again?**